[ THỀM LỤC ĐỊA VỊNH THÁI LAN (SIAM) VÀ ĐẢO SA BỒI NAM CÀ MAU - FUNAN FLOAT ARTIFICIAL ISLAND.]
+ FUNAN FLOAT ARTIFICIAL ISLAND .
Dưới đây là một số thông tin đến địa danh ĐẢO SA BỒI NAM CÀ MAU trên bản đồ Việt Nam hay Đại Nam thời Minh Mạng .
+ Vị trí địa lý: Bãi cạn Cà Mau là bãi ngầm san hô nằm trong vịnh Thái Lan, phía Tây Nam của bán đảo Cà Mau.
Ghi chú trên bản đồ: Trên các bản đồ địa lý và hành chính Việt Nam khu vực này thường được đánh dấu là bãi ngầm hay vùng biển cạn ven bờ của tỉnh Hà Tiên thời nhà Nguyễn triều Minh Mạng năm 1832 . Thuộc về đất Nam Kỳ Lục Tỉnh gồm có 6 tỉnh như sau : Biên Hòa ; Gia Định ; Định Tường là 3 tỉnh miền Đông và Vĩnh Long ; An Giang ; Hà Tiên gọi 3 tỉnh miền Tây , hay trực thuộc tỉnh An Xuyên theo Hành chính thời Việt Nam Cộng Hòa (1955-1975) .
+ Bãi nam Cà Mau là bãi ngầm rộng lớn, cách mũi Cà Mau 110 hải lý, hoặc cách 70 hải lý nếu tính từ điểm giữa bãi ngầm này. Bãi này sâu từ 14,6 đến 18,3 m.
+ Bãi ngầm nam Cà Mau : có hình dạng như một chú Kangaroo ở Úc , đang nằm ngửa lên .
Phần đầu hướng vể phía Đông , gần với đảo hòn Khoai .
Cái mỏm nhọn và hai tay ngắn , hướng về phía Tây bắc .
Phần hai chân co lại và đuôi ngắn , phình to lên ở phía chính Tây .
Theo đường Kinh tuyến 104 Độ (E) + Vĩ tuyến 8 Độ (N) : Nằm ngay Trung điểm giữa lưng và bụng của con Kangaroo khổng lồ này .
- Ước lượng bằng mắt (Vision Estimate) :
Diện tích ước lượng có thể lớn gấp 3 lần đảo Phú Quốc - ngay hướng chính Bắc theo Kinh tuyến 104 Độ (E) : 575 Km X 3 = 1725 Km vuông .
- Diện tích Tính toán Sơ lược (Geometry Formula) : Bãi ngầm nam Cà Mau có thể xem như một hình Thang không đều !
Đáy lớn = 70 miles ; Đáy nhỏ = 70 miles/4 = 12.5 miles ; Chiều cao = 140 miles
Diện tích : 70miles + 12.5 miles = 82.5 x 140 miles = 1550/2 = 775 Square Miles = 2007 Km2
Phần đầu Đông cách mũi Cà Mau chừng 70 miles và cách đảo hòn Khoai 50 miles theo hướng Đông bắc .
Cụm đảo Thổ Châu nằm phía Bắc , ở phần giữa của bãi ngầm nam Cà Mau và đảo Phú Quốc .
+ TẢN MẠN LỊCH SỬ VỀ VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM CỔ XƯA MỜ ẢO (FUNAN KINGDOM) .
Phù Nam là Phù Nam (FuNan) và Chân Lạp là Chân Lạp (Chenla) . Sử liệu, khảo cổ học, ngôn ngữ học, văn bia, và khảo sát tộc người cho thấy không hề có sự nhập nhằng nào giữa hai thể chế này, cũng như không thể khẳng định Chân Lạp là người kế thừa (không nói là kế thừa toàn bộ) di sản của Phù Nam.
- Đây là một sự mạo nhận , hay nói đúng hơn là nhận gian lịch sử rất nông cạn vô lý của sắc tộc Khmer!
Vương quốc Phù Nam được xây dựng sau một cuộc chiến tranh ngắn giữa nhà truyền giáo Hindu Balamôn- Brahma gốc Ấn Độ là Kaundinya với sắc tộc Mạ do Nữ vương Somac (Mặt Trăng) dẫn đầu , thuộc dòng dõi Nagas nói tiếng gốc MãLay . Tại vùng hạ lưu sông Mekong - sông Tiền (Cửu Long) , trước khi đổ ra biển Đông lúc bấy giờ - Thế kỷ 1 .
Sau đó , Nữ vương Somac gốc sắc tộc Mạ , bị thất trận và đã chấp nhận một cuộc hôn nhân đầy đau khổ với kẻ chiến thắng Balamôn-Brahma-Kaundinya ... Nhưng từ đó mà Vương quốc Phù Nam được khai sinh vào đầu Thế kỷ 1 .
Một nhà nước được sinh ra , do hậu quả của một cuộc chiến tranh và hòa bình nhân ái ... Nhưng điều này còn được thừa nhận bởi sự tương hợp giữa hai thực thể chính trị : Tiền sử sắc tộc Mạ bản địa và sự ảnh hưởng của văn hóa - tín ngưỡng Hindu - Ấn Độ, lúc bấy giờ trên đường truyền bá sang phía Đông ...
- Từ đây , chúng ta cũng suy xét về một vấn đề lịch sử của nhà nước cổ đại Khmer (ChenLa) - Chân Lạp ( 530 ) hay Cambodia - Campuchia - Cao Miên đương đại bây giờ .
- Campuchia ngày nay nói rằng : vì thế mà họ là người kế thừa của Phù Nam! Tấm bản đồ phản ánh thành quả nghiên cứu hơn một thập kỷ của dự án khảo cổ Hạ lưu Mekong-LOMAP trong việc xác định không gian địa lý của hai thực thể: Phù Nam và Chân Lạp.
Như vậy ChenLa - Chân Lạp - Đế quốc Khmer hay Cao Miên - Campuchia đương đại hiện nay . Họ là ai ? - Nguồn gốc họ ? , bắt nguồn từ đâu ? và tại sao họ lại cố gắng tự thừa nhận họ là thừa kế của Vương quốc Phù Nam ?
Mặc dù , lịch sử và di chứng khảo cổ đã chứng minh rằng : Khmer cổ hay Campuchia đương đại hiện nay đang sinh sống và rêu rao nhà nước Khmer của họ đang nằm trên vùng lãnh thổ mà ... Khi khởi thủy nó hoàn toàn không thuộc về bất cứ ChenLa - Chân Lạp- Khmer hay Campuchia đương đại Khmer Rough Hunsen bây giờ .
Chân Lạp hay Chenla là tên người Trung Hoa ghi chép về vương quốc sơ kỳ của người Khmer. Theo các văn bia, vương quốc này cũng là một thực thể chính trị chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, thành lập cuối thế kỷ VI ở vùng cao nguyên phía Nam Lào (Vat Phou hay Wat Phou - Champasak).
Sử nhà Đường có chép việc Chân Lạp vốn là thuộc quốc , chư hầu của Phù Nam, đến thế kỷ thứ VII thì lớn mạnh và xâm lăng chinh phục Phù Nam.
Sau đó Chân Lạp bị chia rẽ, phân làm Thủy Chân Lạp (ở phía Nam) và Lục Chân Lạp (ở phía Bắc).
Campuchia ngày nay nói rằng vì thế : mà họ là người kế thừa của Phù Nam!
Cho dù , lịch sử và di chứng khảo cổ đã chứng minh rằng khởi thủy Khmer hay Campuchia đương đại hiện nay : Là một lãnh địa tự trị dưới sự kiểm soát của Phù Nam cổ đại .
Campuchia đương đại : hoàn toàn không có gì liên hệ và quan hệ với nhau từ thời khởi nguồn nhà nước hay nói rõ ràng hơn là :" Khách mạnh , ăn hiếp chủ nhà ". Theo Bản đồ không gian Phù Nam và Chân Lạp (Miriam Stark 2006) . Sắc tộc Khmer : Nó từ đâu ra ? Where is it start ? .
Bất cứ ai . Tất cả mọi người , trên thế giới này , hay người Việt Nam có 3 câu hỏi trực tiếp với người dân hay nhà cầm quyền đương đại Campuchia - Hunsen rằng :
- Những di tích khảo cổ tại Vat Phou - Wat Phou hay núi Phou Khao ( 6Km Westside of Mekong River) vào nửa cuối Thế kỷ 5 . Địa điểm này , hiện nay thuộc về tỉnh Champasak của Nam Lào-Laos . Người Cao Miên - Campuchia đương đại có muốn thừa nhận hay không ? Đây là kinh đô đầu tiên của nhà nước ChenLa dưới sự dẫn dắt sắc tộc Khmer : City of Shrestapura- Pakse - Champasak - Laos ? Lingam ? This is original Khmer land ! Dưới sự cai trị của vua Shrutavarman ( 435- 495 ) và tiếp theo là vua Shreshthavarman ( 495 - 530 ) . Tại Vat Phou - Phou Khao còn được gọi là Shreshthapura cố đô đầu tiên của Kingdom of ChenLa - Pre Khmer , tại tỉnh Champasak thuộc Nam Lào bây giờ . Sau đó hai vua ChenLa - Chân Lạp kế tiếp là Mahendrarman và con trai là Ishanavarman đã liên tục mở ra các chiến dịch tấn công , vào lãnh thổ Phù Nam nằm phía Tây nam sông Mekong năm 612 - 628 ... It is not lower part of Mekong River , from Phnom Penh to to the Southern ?
- Phù Nam là Phù Nam và Chân Lạp là Chân Lạp. Sử liệu, khảo cổ học, ngôn ngữ học, văn bia, và khảo sát tộc người cho thấy không hề có sự nhập nhằng nào giữa hai thể chế này, cũng như không thể khẳng định Chân Lạp là người kế thừa (không nói là kế thừa toàn bộ) di sản của Phù Nam. Trước hết, Chân Lạp được tạo dựng bởi người Khmer. Người Khmer nói tiếng Nam Á (Austroasiatic). Địa bàn phân bố của những người tạo dựng nên Chân Lạp trải dài từ khu vực cao nguyên Khorat, dọc lưu vực sông Chi, sông Menam Mun, theo dãy Dangrek về phía đông đến vùng cao nguyên Champassak của Lào. Chân Lạp được thành lập sau Phù Nam và ban đầu còn phải nhận sự lệ thuộc. Thứ hai là chính Chân Lạp đã tấn công phá hủy Phù Nam, sau đó rút về phía Bắc của Biển Hồ.
- Lịch sử cư trú của người Khmer ở hạ lưu Mekong sau thời kỳ Phù Nam là hầu như không được đề cập đến. Nhà sử học Nhật Bản Yumio Sakurai nói rằng nhiều vùng đất như Đồng Tháp Mười đã bị bỏ hoang cả nghìn năm sau sự sụp đổ của Phù Nam.
Sứ thần nhà Nguyên Chu Đạt Quan đến Angkor vào thế kỷ XIII, ghi chép về vùng đất xung quanh hai bờ sông hầu như bỏ trống, chỉ có trâu hoang và rừng rậm.
Nhà khảo cổ người New Zealand, Charles Higham đã lập tấm bản đồ trong đó đánh dấu các địa điểm có văn bia Khmer từ thế kỷ IX đến XIII, cho thấy họ- ChenLa - Khmer , hầu như không có sự hiện diện nào từ khu vực phía Nam Phnom Penh (2002)...Sắc tộc Khmer hay Cao Miên - Campuchia : đã bị đồng hóa bởi nền văn minh tiến hoá lúc bấy giờ của Vương quốc Phù Nam cổ đại .
Cho nên những gì thuộc về văn hóa ; văn minh , phong tục và tín ngưỡng của Cao Miên - Campuchia bây giờ tất cả thuộc về nguồn gốc của Vương quốc Phù Nam- FUNAN trước Thế kỷ VII.
+ KHAI PHÁ ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM ... ĐẤT MŨI CÀ MAU VÀ VỊNH THÁI LAN (SIAM GULF) .
Tỉnh An Xuyên (Cà Mau). Tuy là tỉnh cuối cùng của miền Nam nước Việt, nhưng rẫy đầy rừng cấm, lâm sản, thổ sản và hải sản quý báu. Lại còn nhiều phong tục tập quán, tục lệ cổ truyền, thổ ngữ, ca dao, từ tỉnh lỵ đến đồng quê hẻo lánh, từ mũi Cà Mau đến Hòn Khoai và Hòn Đá Bạc...Và gốc tích các sông rạch, chùa miễu, phong cảnh đẹp cùng nhiều mẫu chuyện vui và lạ như: cách hầm than, đặt ống trúm bắt lươn, chụp ba khía, muối cua gạch son, ăn ong mật, đốn đuôn chà là, săn khỉ và lọ nồi, trục sấu mắc câu, săn kỳ đà, đốt đồng bắt rùa, cọp Cà Mau, đỉa, vắt, muỗi và bù mắt v.v.
Địa Danh An Xuyên (安川) có nghĩa là "Dòng nước An lành" - Năm 1956 Đệ nhứt Việt Nam Cộng Hòa, thành lập tỉnh tên là Cà Mau rồi An Xuyên,tỉnh lỵ tên Quản Long.
Vậy là tỉnh An Xuyên bao gồm 6 quận:
-Quận Quản Long
-Quận Cái Nước
-Quận Đầm Dơi
-Quận Thới Bình
-Quận Năm Căn
-Quận Sông Ông Đốc
Tên sáu quận rất Cà Mau, rất bổn địa, rất thân thương.
Ca dao xưa có câu:
"Cà Mau là xứ quê mùa
Muỗi bằng gà mái, cọp tùa bằng trâu"
và
Cà Mau khỉ khọt trên bưng,
Dưới sông sấu lội, trong rừng cọp um.
Cà Mau xuất xứ từ tiếng Khmer là “Tuk-Khmâu” nghĩa là nước đen. Tuk-Khmâu bị đọc gọn lại thành “Khmâu” và từ đó thành ra Cà Mau.
Gọi là “nước đen” vì vùng đất này toàn bùn lầy của đước, sú, vẹt, nhứt là khu rừng U Minh và khu sông Ông Đốc quanh năm bị ngập lụt, nước đọng vũng tù đọng từ vàng đậm tới đen thui sình bùn.
Bán đảo Cà Mau là vùng đất chót cùng của bản đồ Việt Nam, vùng đất mang danh “khỉ ho có gáy” của Nam Kỳ Lục Tỉnh. Vùng này kinh rạch chằng chịt, đất sình lầy ao tù nước đọng, lại có rừng U Minh kỳ dị trong truyền thuyết, nơi đó có rắn hổ mây biết tát đìa, biết gáy, những đầm lầy minh mông như đầm Bà Tường với nhiều cây mắm, cây đước hiên ngang chiến đấu giành đất với đại dương.
Đất này có nhiều địa danh ngộ nghĩnh như Trèm Trẹm, Đồng Cùng, Bảy Háp, Đầm Dơi, Gành Hào, Đường Kéo , Ô Rô, Rạch Muỗi, Cái Rắn…
Cà Mau là xứ sở của mật ong ,cá đồng, cua, có thể liệt kê như: cá lóc, cá tre, rô, sặc, bống,nchẽm, thác lác. Cá biển và cá nước lợ cũng đầy, tôm, cua, ba khía, rùa, rắn, lươn cũng vô số kể.
Muốn biết cảm giác “sông-rừng” Cà Mau và để biết cha ông chúng ta đã khai phá Cà Mau cực nhọc thế nào xin mời xem bộ “Hương rừng Cà Mau” của Sơn Nam và đọc truyện “Rừng Mắm” của nhà văn Bình-nguyên Lộc hay là câu chuyện tình trai gái qua tiểu thuyết xưa " Bên dòng sông Trẹm " .
Công cuộc Nam tiến mở mang bờ cõi đất phương Nam được nhắc đến như khúc trường ca oai hùng của ông bà chúng ta.
Những lưu dân áo rách chưn không băng rừng lội sông tìm đất sống. Họ đi từng đoàn lặng lẽ trong đêm,khát uống nước sông, đói xuống sông mò cá,lên rừng bẻ rau. Họ đi trên những chiếc ghe bầu linh đinh trên biển rồi ghé vào cái vàm nào đó ở chín cửa sông Cửu Long.
Cà Mau là mảnh đất cuối cùng của lưu dân khai phá.
Mồ hôi, nước mắt,tiếng than thở và cả máu. Đòn gánh, tầm vông, phảng chống nhau với cọp dữ, sấu tinh.
“Nghe nói Cà Mau xa lắm
Ở cuối cùng bản đồ Việt Nam
Ngại chi đường xa không tới
Về để nói với nhau mấy lời”
Người Cà Mau dễ thương lắm
"Xự xang xê cống thương
Gói sao cho tròn miếng trầu
Gởi bạn tình chung thủy chung".
GULF OF SIAM .
- Vịnh Thái Lan (tiếng Thái: อ่าว ไทย; phát âm tiếng Thái: [Ào Thay]) (tên gọi cũ: Vịnh Chân Lạp, Vịnh Xiêm La) là một vịnh nằm ở Biển Đông (thuộc Thái Bình Dương), được bao bọc bởi các quốc gia: Malaysia, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Đỉnh phía bắc của vịnh này là vịnh Băng Cốc ở cửa sông Chao Phraya, gần Băng Cốc, thủ đô Thái Lan. Vịnh này có diện tích khoảng 320.000 km². Điểm giới hạn của vịnh này được xác định theo đường nối từ mũi Cà Mau ở cực nam Việt Nam tới thành phố Kota Bharu trên bờ biển Malaysia.
Vịnh Thái Lan tương đối nông, độ sâu trung bình của nó chỉ khoảng 45 m và độ sâu lớn nhất là 80 m .
(Độ sâu trung bình 58 m (190 ft) & Độ sâu tối đa 85 m (279 ft)
Điều này làm cho sự đối lưu nước tương đối chậm, dòng chảy mạnh của nước các con sông làm cho nước vịnh tương đối nhạt (3,05 - 3,25%) và giàu trầm tích. Chỉ ở những vùng nước sâu thì nước biển có độ mặn cao hơn (3,4%) từ Biển Đông chảy vào vịnh và chiếm lĩnh các chỗ trũng có độ sâu hơn 50 m. Các sông chính chảy vào vịnh này là Chao Phraya (bao gồm cả sông nhánh của nó là Ta Chin) và Maeklong ở vùng lõm Băng Cốc, và ở mức độ thấp hơn là sông Tapi vào vịnh Bandon ở phía tây nam của vịnh này.
Vào giai đoạn đỉnh điểm của thời kỳ băng hà cuối cùng, vịnh Thái Lan không tồn tại do mực nước biển xuống thấp, nó khi đó là một phần của thung lũng sông Chao Phraya (Me Nam) .
Do nhiệt độ của vùng nhiệt đới là tương đối cao nên trong các vùng nước của vịnh Thái Lan có nhiều bãi đá san hô ngầm...
+ CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC ĐẢO SA BỒI NAM CÀ MAU - THỜI GIAN LIÊN TỤC TRONG 5 NĂM .
Với diện tích căn bản : 2007 Km2 hay có thể lên đến > 2010 Km2 .
Và chu vi xấp xĩ : 70 miles + 12.5 miles + 140 miles + 180 miles = > 400 miles tương đương 600 Km .
Công trình đảo sa bồi Nam Cà Mau gồm có 9 Giai đoạn căn bản theo thứ tự như sau :
CẤU TẠO CHÂN MÓNG TRỤ .
- Các khối Bê tông cốt thép không rỉ được đúc sẵn sàng trong đất liền với Cement chịu nước biển và các Đầu Cung Nối (Main Connector) được thiết kế trên một mặt phía trên và hai mặt bên hông của nó ([-]) . khối Bê tông cốt thép theo hình Lập phương hay gọi ngắn khối chân Móng trụ (Bê tông cốt Thép - hình khối Vuông )
- Các khối chân Móng trụ Lập phương có kích thước đồng đều : 5 mêt X 5 mét X 5 mét = 125 mét khối Bê tông Thép & Khối lượng >> 290 Tấn - 300 Tấn.
- Khoảng cách của mỗi khối chân Móng trụ là 100 mét chạy dọc theo đường Chân Biên theo hình dáng con Kanguroo đang nằm và đi vô trong theo chiều sâu với khoảng cách là 200 mét cho mỗi khối Bê tông Thép Vuông .
Giai đoạn [1] Đúc khối chân Móng trụ (Bê tông cốt Thép - hình khối Vuông) ,với toàn thể vật liệu bền bĩ với nước biển , có số lượng 6000 chân Móng trụ - Kích thước 5mX5mX5m .
BÊ-TÔNG CÔNG XƯỞNG HẠM (CONCRETE CONTAINER SHIP) : Dài 90 mét / Rộng 30 mét / Cao 20 mét với Đáy bằng như dạng Sà-lan .
Concrete container ship with a length of 90 meters, width of 30 meters, and height of 20 meters - Engine producing approximately 2,500 to 4,000 horsepower to cruise efficiently at speed : 12 to 14 knots . It can realistically carry a maximum cargo and operating weight (Deadweight Tonnage) of approximately 12,000 to 18,000 metric tons (heavy tons).
-Bê tông (Concrete) được trộn tại các nhà máy trộn Bê tông trong bờ biển thuộc tỉnh Hà Tiên (An Xuyên) ở dạng bùn lỏng .
-Trong khi , các giàn khung Thép nội lực và khuôn Đúc hình khối Lập phương với hệ thống vận hành Thủy lực Nhớt (Hydraulic) cho Điều khiển (On-Off) gọi chung là Khối Vuông Trụ Đúc được thiết trí hoàn toàn trên Bê-tông Công Xưởng Hạm .
+ Khuôn Đúc hình khối Lập phương với Cốp pha .
+ Steel Conveyor Roller X 2 Tracks .
-Bê-tông Công Xưởng Hạm sẽ đảm nhiệm cho hải trình <2 ways=""> đưa 6 Khối Vuông Trụ Đúc trong 1 hải trình (Out <> In) từ nhà máy trộn Bê tông trong bờ , đi ra tới Bãi cạn Nam Cà Mau trong vòng 100 miles và tiến hành hoàn thiện Giai đoạn [1] . (Sẽ Tiếp Theo)
Giai đoạn [2] Di chuyển và Định vị trên thực địa tại bãi sa bồi Nam Cà Mau , toàn bộ 6000 chân Móng trụ cắm dọc theo đường điểm mờ (Dot...Line) với khoảng cách 100 mét cho mỗi chân Móng trụ , dọc theo 600 Km chu vi - Để tạo nên hình dáng chân Móng trụ căn bản của Đảo sa bồi Nam Cà Mau .
Giai đoạn [3] Liên kết dây Cáp thép cỡ lớn (1.5 Inch) nối liền từ chân Móng trụ tại vị trí (Cung liên kết) lên trên mặt nước biển vịnh Thailand . Chiều dài của mỗi dây Cáp thép thay đổi , tùy theo độ sâu và lún xuống của mỗi chân Móng trụ ,nhưng trung bình từ (20 m đến 40 m) - Phần trên mặt nước biển - khối gắn Móc Khoá (Hook Lock L?) với một Bóng phao Cao su hình Cầu (Đường kính 5 m-dày 1.2Cm) bên trong bơm căng Không khí (Air Compress) để giữ các dây Cáp thép hiện diện trong trạng thái nổi lên trên mặt nước . Tất cả có tới 6000 Bóng phao Cao su liên kết song song = quy chiếu vuông góc với 6000 chân Móng trụ bên dưới tầng đáy biển .
Giai đoạn [4] Liên kết cặp đôi tại Trung điểm của hai Sà -lan theo hình khối hộp Chữ Nhật với kích thước (Dài 10 m X Rộng 5 m X Cao 4 m) , chế tạo vật liệu Thép đóng tàu biển (Dày 3 Cm - chịu nước mặn) - Theo mô hình song song với cặp đôi ([].[]) để thay thế cho 6000 Bóng phao Cao su sẽ di chuyển ngang , cho một chức năng thứ 2 . Theo thiết kế có số lượng 6000X2 Sà-lan cần thiết để làm Trụ Nổi (Float Root) được liên kết bền vững để làm căn bản , gọi là (Top-Rim) hay Đai Trên .
Giai đoạn [5] Nối đầu Cáp thép theo liên kết Ngang - Giữa hai cụm Sà-lan kế tiếp nhau - Chiều dài dây Cáp thép Ngang = 100 m X 2 theo 2 đầu Móc phía bên trong của mỗi Sà-lan và tạo nên Tim Trung tuyến của đường Ven Đảo (O-St) của mỗi Sà lan (Trong-Ngoài) - Tổng cộng có đến 6000 đoạn dây Cáp thép Ngang X2 = 12000 - Trên mỗi đoạn dây Cáp thép Ngang tại Trung điểm có gắn đúc một Tăng-đơ xoay vặn cho việc điều chỉnh độ căng của dây Cáp thép Ngang 95% .
- Sau khi liên kết các Sà-lan với nhau (6000X2) - Toàn bộ 6000 Bóng phao Cao su sẽ di chuyển Ngang lên vị trí giữa của dây Cáp thép Ngang và sử dụng Móc Khoá (Hook Lock L?) - Mục đích để định vị và gia tăng độ nổi cho các vật liệu cấu trúc trong Giai đoạn 7 .
Giai đoạn [6] Sử dụng các cần cẩu hạng nhẹ , được liên kết vững vàng trên các Sà-lan đã lắp đặt hoàn chỉnh . Lần lượt và liên tục thả 12000 dây Cáp thép Ngang , xuống dưới mặt nước biển và được kéo ra hai bên hông của chân Móng trụ và móc (Hook Lock) vô Đầu Cung Nối (Main Connector) hai bên hông (Side) của mỗi chân Móng trụ và xoay vặn Tăng-đơ cho căng cứng 95% , tạo nên một Đai Dưới (Base- Rim) . Kỹ thuật cấu tạo tương tự Giai đoạn 6 nhưng phải dùng các thiết bị Lặn sâu và cung cấp Oxygen cho các đơn vị thi công trong môi trường dưới áp suất nước biển và quậy bùn , làm giảm tầm quan sát .
Giai đoạn [7] Xây dựng một con đường kết nối giữa hai Trụ Nổi (Float-Root) và tiếp theo ,gọi là đường Ven Đảo hay đường O-St - Với chiều dài thiết lập 600 Km , chạy vòng quanh đảo bồng bềnh . Lúc này hình dáng của một đảo nổi Nam Cà Mau đã định hình lên trên mặt biển cửa vịnh Thailand , nhưng bên trong thềm lục địa và hải phận thuộc chủ quyền Việt Nam .
- Thiết kế để lắp ráp nên đường Ven Đảo gồm có sự liên kết của các Cầu Phao Nhựa + Lưới Thép (PlasticSteelNetFrame) - Vật liệu Nhựa được tập trung từ kỹ thuật nấu tái chế Nhựa phế thải và chế tạo thành hình dáng của một Sà-lan Nhựa lưới Thép còn gọi là Ống Nổi hay (Box) .
- Sà-lan Nhựa hay Box có hình dạng tương tự như Sà-lan Thép (Float Root) - Nhưng được chế tạo 50% phần Rắn (Solid) và 50% phần Rỗ (O) bên trong .
- Các đầu Liên Kết Móc bằng Thép chịu lực và chịu nước biển được thiết kế vươn ra hai đầu của Sà-lan Nhựa (Box) .
- Theo tính toán tổng quát trung bình cho một đầu nối giữa hai Trụ Nối (Float Root) dài 100 mét có 10 Box nối tiếp cho 1 bên (lane) và X2 = 20 Box cho 100 m . Tổng cộng sẽ có 6000X20Box= 120000 Sà-lan Nhựa (Box) cần thiết cho đường Ven Đảo .
- Mỗi chiếc Sà-lan Nhựa sẽ được đặt dọc theo dây Cáp thép tim Trung tuyến và được liên kết bằng 5 Cùm hông Ômêga (-O-) do 4 Bu loong Thép vặn giữ .
Trong khi 2 đầu phía ngoài được Liên kết theo các Bản lề (Hinge) do các Chốt Thép ([-]) xuyên Ngang . Mục đích tạo nên sự uyển chuyển lên xuống nhịp nhàng theo các đợt sóng tác động hình Sine waves .
Giai đoạn [8] Bây giờ là các công trình xây dựng tuyến đường Ven Đảo kết nối 600 Km , bằng vật liệu Dầu nhựa đường (Sạn + Đá dăm + Dầu Hắc) trộn đều và trải lên trên tuyến đường có trải 5 dàn khung Frame dây sắt rằn (10mm) được kết nối với nhau qua các lỗ mắt Xích (O---OO---O) . Dàn khung Frame gồm 10 đường (Dài 600Km) theo chiều Dọc và 5 Móc Ngang (H Link) cho sự liên kết Ngang (Horizontal) cho 5 dây sắt rằn của dàn khung Frame vững vàng . Trước khi đổ lớp vật liệu Dầu nhựa đường dày 20 Cm lên toàn bộ tuyến đường : Rộng 5 mét / Dài 600 Km / Dày 20 Cm .
Giai đoạn [9] Bây giờ , là kế hoạch lắp ráp các Hệ thống Máy Phát Điện dùng Hải Năng tức là dùng sức sóng Dập , để phát Điện Năng theo Mô hình BlowHole . Khu vực phát Điện dùng Hải Năng BlowHole được lắp đặt tại Khu vực phía Đông (12 Km2) của đảo sa bồi Nam Cà Mau , nhằm tạo nên nguồn Điện cung cấp cho Khu vực phía Tây (70 Km2) của đảo sa bồi Nam Cà Mau : Đây là khu vực lắp đặt nhiều Dàn máy Bơm Hút dạng Ly tâm có công suất lớn - có vòi hút dài 5 Km và có tàu vòi voi hướng dẫn Hút sa bồi . Mục đích là để hút phần trầm tích phù sa đang lắng đọng rất nhiều ở phía Tây và bơm vô bên trong đảo ở phía Tây , nhắm hình thành một vành cung hình móng Ngựa do sa bồi ở phía Tây của đảo trước (gọi là cồn móng Ngựa-HorseShoes) . Sau khi đầu đảo phía Tây đã nhô cao lên trên mặt nước biển tự nhiên , thì sau đó tất cả phù sa trầm tích của sông Cửu Long và Vàm Cỏ sau khi phân chia ở hòn Khoai ,sẽ bị cản lại tại phía Đông của cồn móng Ngựa ngày càng nhiều hơn và dần dần sẽ nâng cao lên cho toàn thể phần Đông của đảo sa bồi Nam Cà Mau và như vậy một hòn đảo mới ven bờ biển Nam Việt Nam đã hình thành .
+ Mục đích sẽ xây dựng thành một Khu vực Phát Điện Chủ lực cho miền Tây Nam Phần và Đô Thành Sài Gòn- Gia Định ,dựa vô tiềm năng thiên nhiên vô tận như : Hải Năng + Quang Năng + Phong Lực (Spiral Vertical Turbine) .
+ Ngoài ra , cũng còn mục đích chiến thuật là để kiểm soát On - Off luồng ngoại thương hàng hải của Thái Lan và CamPuChia , trong trường hợp căng thẳng chiến tranh khu vực Đông Nam Á .
+ FUNAN FLOAT ARTIFICIAL ISLAND SURFACE MOUNT SMT .
A - Hải Năng - Waves Energy .
ARTIFICIAL BLOWHOLE WAVES POWER GENERATOR .
Wave power stations that use a "blowhole" style operate on an Oscillating Water Column (OWC) principle. As waves enter an open underwater chamber, the rising and falling water compresses and decompresses trapped air, forcing it through a specialized turbine at the top to generate electricity.
How Blowhole (OWC) Wave Energy Works
The technology mimics a natural blowhole. It captures the energy from the entire water column as it moves into a fixed, hollow structure (usually a concrete chamber).
Wave Entry: A wave enters the large underwater opening, causing the water level inside the chamber to rise.
Air Compression: The rising water forces trapped air above it through a narrow opening at the top of the chamber.
Power Generation: The rushing air spins an air turbine connected to a generator, creating electricity.
The Vacuum Effect: As the wave recedes, the falling water creates a vacuum, sucking air back into the chamber and spinning the turbine again.
Advantages
Reliability: The moving parts (the turbine and generator) are located completely above the water line, protecting them from corrosive saltwater.
No Underwater Moving Parts: By having no moving parts submerged in the ocean, it avoids harming marine life and requires less maintenance.
Coastal Protection: These structures can be built directly into the shoreline, acting as a revenue-generating breakwater or seawall that protects the coast from erosion.
B - Quang Năng - Solar Panel System .
SOLAR PANEL FIELD PLANT .
Tấm quang điện hay Tấm pin năng lượng mặt trời là thiết bị chuyển đổi ánh sáng mặt trời thành điện năng bằng cách sử dụng tế bào quang điện (PV). Tế bào PV làm từ vật liệu tạo ra điện tử khi tiếp xúc với ánh sáng. Các điện tử chạy qua mạch điện, tạo ra dòng điện một chiều (DC) có thể dùng để cấp nguồn hoặc lưu trữ trong pin. Các tấm pin mặt trời còn gọi là tấm điện mặt trời hoặc mô-đun PV hay Solar Panel System .
Tấm pin mặt trời được sắp xếp thành mảng hoặc hệ thống. Hệ thống quang điện bao gồm tấm pin, biến tần, và các thành phần khác. Nó có thể cung cấp điện cho các ứng dụng không kết nối lưới hoặc được kết nối lại lưới. Tấm pin mặt trời sử dụng năng lượng tái tạo, giảm phát thải khí nhà kính và giảm hóa đơn tiền điện. Solar Panel System phụ thuộc vào ánh sáng mặt trời, đòi hỏi bảo trì có chi phí ban đầu cao nhưng được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp và dân dụng.
C - Phong Lực w Spiral Vertical Turbine .
TWISTER ELECTRICITY POWER STATION .
Mô hình Turbine gió trục dọc dạng xoắn (thường dựa trên nguyên lý xoắn ốc Spiral) là giải pháp năng lượng tái tạo tận dụng hướng gió từ mọi góc độ. Với thiết kế thẳng đứng, dòng chảy xoắn giúp thiết bị vận hành êm ái, an toàn và hiệu quả ngay cả trong điều kiện gió yếu hoặc luồng gió hỗn loạn .
Nguyên lý hoạt động và Cấu tạo
Thiết kế hình học: Cánh quạt xoắn quanh một trục trung tâm theo đường cong hình học tự nhiên giúp phân bổ lực đều và giảm tiếng ồn.
Đa hướng: Khác với turbine trục ngang (phải quay theo hướng gió), turbine trục dọc bắt được luồng gió từ 360 độ theo 3 cánh Gió (WindFins).
2. Ưu và nhược điểm Ưu điểm: Hoạt động tốt trong môi trường gió nhiễu, thân thiện với chim chóc, tiếng ồn cực thấp và tạo điểm nhấn kiến trúc. Nhược điểm: Hiệu suất chuyển đổi năng lượng , thường thấp hơn so với các turbine trục ngang cánh lớn truyền thống. Do đó , cần phải thiết trí theo mô hình Kinh+Vĩ với số lượng nhiều các trụ Phát Điện Spiral Vertical Turbine để thu dung công suẩt Điện Lực tổng hợp .
D - Hệ Thống Hạ Nhiệt Gió (Sea+Air Cooler) cho khu vực Tây Nam Phần-Đông Nam Phần đến phía nam cao nguyên Di Linh - Lâm Viên .
SEA+AIR COOLER WINDY BASE .
Nguyên Lý Hoạt Động :
+ Sử dụng nguồn Điện Năng trên đảo sa bồi Nam Cà Mau cung cấp cho Thiết bị Sinh Hàn công suất lớn ... Phát ra nguồn Central AirConditioner (Nhiệt thấp) - tạo Khí áp cao - mở dòng gió Biển mang theo hơi nước mát từ biển thổi sâu vô đất liền đang Nhiệt cao và Khí áp thấp - Nhờ vào sự truyền dẫn và trao đổi Nhiệt độ qua Không khí luân phiên - Sẽ làm cho Nhiệt độ bên trong đất liền giảm xuống nhiều từ 42 Độ C xuống 27 Độ C là điều mong muốn .
E - Hệ thống Truyền tải Điện năng vô đất liền .
ELECTRICITY POWER TRANSFER .
Gồm có :
1 / Hữu tuyến : Tuyến dây cáp truyền Điện Cách ly (Ngầm dưới nước) .
2 / Vô tuyến : Hệ thống phát tín hiệu MicroWave Magnetron & Phục hồi Energy to Heat up Water for Steam Turbine Electric Generator (Trong bờ biển) .
(Sẽ Tiếp Theo)
+ FUNAN FLOAT ARTIFICIAL ISLAND .
Dưới đây là một số thông tin đến địa danh ĐẢO SA BỒI NAM CÀ MAU trên bản đồ Việt Nam hay Đại Nam thời Minh Mạng .
+ Vị trí địa lý: Bãi cạn Cà Mau là bãi ngầm san hô nằm trong vịnh Thái Lan, phía Tây Nam của bán đảo Cà Mau.
Ghi chú trên bản đồ: Trên các bản đồ địa lý và hành chính Việt Nam khu vực này thường được đánh dấu là bãi ngầm hay vùng biển cạn ven bờ của tỉnh Hà Tiên thời nhà Nguyễn triều Minh Mạng năm 1832 . Thuộc về đất Nam Kỳ Lục Tỉnh gồm có 6 tỉnh như sau : Biên Hòa ; Gia Định ; Định Tường là 3 tỉnh miền Đông và Vĩnh Long ; An Giang ; Hà Tiên gọi 3 tỉnh miền Tây , hay trực thuộc tỉnh An Xuyên theo Hành chính thời Việt Nam Cộng Hòa (1955-1975) .
+ Bãi nam Cà Mau là bãi ngầm rộng lớn, cách mũi Cà Mau 110 hải lý, hoặc cách 70 hải lý nếu tính từ điểm giữa bãi ngầm này. Bãi này sâu từ 14,6 đến 18,3 m.
+ Bãi ngầm nam Cà Mau : có hình dạng như một chú Kangaroo ở Úc , đang nằm ngửa lên .
Phần đầu hướng vể phía Đông , gần với đảo hòn Khoai .
Cái mỏm nhọn và hai tay ngắn , hướng về phía Tây bắc .
Phần hai chân co lại và đuôi ngắn , phình to lên ở phía chính Tây .
Theo đường Kinh tuyến 104 Độ (E) + Vĩ tuyến 8 Độ (N) : Nằm ngay Trung điểm giữa lưng và bụng của con Kangaroo khổng lồ này .
- Ước lượng bằng mắt (Vision Estimate) :
Diện tích ước lượng có thể lớn gấp 3 lần đảo Phú Quốc - ngay hướng chính Bắc theo Kinh tuyến 104 Độ (E) : 575 Km X 3 = 1725 Km vuông .
- Diện tích Tính toán Sơ lược (Geometry Formula) : Bãi ngầm nam Cà Mau có thể xem như một hình Thang không đều !
Đáy lớn = 70 miles ; Đáy nhỏ = 70 miles/4 = 12.5 miles ; Chiều cao = 140 miles
Diện tích : 70miles + 12.5 miles = 82.5 x 140 miles = 1550/2 = 775 Square Miles = 2007 Km2
Phần đầu Đông cách mũi Cà Mau chừng 70 miles và cách đảo hòn Khoai 50 miles theo hướng Đông bắc .
Cụm đảo Thổ Châu nằm phía Bắc , ở phần giữa của bãi ngầm nam Cà Mau và đảo Phú Quốc .
+ TẢN MẠN LỊCH SỬ VỀ VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM CỔ XƯA MỜ ẢO (FUNAN KINGDOM) .
Phù Nam là Phù Nam (FuNan) và Chân Lạp là Chân Lạp (Chenla) . Sử liệu, khảo cổ học, ngôn ngữ học, văn bia, và khảo sát tộc người cho thấy không hề có sự nhập nhằng nào giữa hai thể chế này, cũng như không thể khẳng định Chân Lạp là người kế thừa (không nói là kế thừa toàn bộ) di sản của Phù Nam.
- Đây là một sự mạo nhận , hay nói đúng hơn là nhận gian lịch sử rất nông cạn vô lý của sắc tộc Khmer!
Vương quốc Phù Nam được xây dựng sau một cuộc chiến tranh ngắn giữa nhà truyền giáo Hindu Balamôn- Brahma gốc Ấn Độ là Kaundinya với sắc tộc Mạ do Nữ vương Somac (Mặt Trăng) dẫn đầu , thuộc dòng dõi Nagas nói tiếng gốc MãLay . Tại vùng hạ lưu sông Mekong - sông Tiền (Cửu Long) , trước khi đổ ra biển Đông lúc bấy giờ - Thế kỷ 1 .
Sau đó , Nữ vương Somac gốc sắc tộc Mạ , bị thất trận và đã chấp nhận một cuộc hôn nhân đầy đau khổ với kẻ chiến thắng Balamôn-Brahma-Kaundinya ... Nhưng từ đó mà Vương quốc Phù Nam được khai sinh vào đầu Thế kỷ 1 .
Một nhà nước được sinh ra , do hậu quả của một cuộc chiến tranh và hòa bình nhân ái ... Nhưng điều này còn được thừa nhận bởi sự tương hợp giữa hai thực thể chính trị : Tiền sử sắc tộc Mạ bản địa và sự ảnh hưởng của văn hóa - tín ngưỡng Hindu - Ấn Độ, lúc bấy giờ trên đường truyền bá sang phía Đông ...
- Từ đây , chúng ta cũng suy xét về một vấn đề lịch sử của nhà nước cổ đại Khmer (ChenLa) - Chân Lạp ( 530 ) hay Cambodia - Campuchia - Cao Miên đương đại bây giờ .
- Campuchia ngày nay nói rằng : vì thế mà họ là người kế thừa của Phù Nam! Tấm bản đồ phản ánh thành quả nghiên cứu hơn một thập kỷ của dự án khảo cổ Hạ lưu Mekong-LOMAP trong việc xác định không gian địa lý của hai thực thể: Phù Nam và Chân Lạp.
Như vậy ChenLa - Chân Lạp - Đế quốc Khmer hay Cao Miên - Campuchia đương đại hiện nay . Họ là ai ? - Nguồn gốc họ ? , bắt nguồn từ đâu ? và tại sao họ lại cố gắng tự thừa nhận họ là thừa kế của Vương quốc Phù Nam ?
Mặc dù , lịch sử và di chứng khảo cổ đã chứng minh rằng : Khmer cổ hay Campuchia đương đại hiện nay đang sinh sống và rêu rao nhà nước Khmer của họ đang nằm trên vùng lãnh thổ mà ... Khi khởi thủy nó hoàn toàn không thuộc về bất cứ ChenLa - Chân Lạp- Khmer hay Campuchia đương đại Khmer Rough Hunsen bây giờ .
Chân Lạp hay Chenla là tên người Trung Hoa ghi chép về vương quốc sơ kỳ của người Khmer. Theo các văn bia, vương quốc này cũng là một thực thể chính trị chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, thành lập cuối thế kỷ VI ở vùng cao nguyên phía Nam Lào (Vat Phou hay Wat Phou - Champasak).
Sử nhà Đường có chép việc Chân Lạp vốn là thuộc quốc , chư hầu của Phù Nam, đến thế kỷ thứ VII thì lớn mạnh và xâm lăng chinh phục Phù Nam.
Sau đó Chân Lạp bị chia rẽ, phân làm Thủy Chân Lạp (ở phía Nam) và Lục Chân Lạp (ở phía Bắc).
Campuchia ngày nay nói rằng vì thế : mà họ là người kế thừa của Phù Nam!
Cho dù , lịch sử và di chứng khảo cổ đã chứng minh rằng khởi thủy Khmer hay Campuchia đương đại hiện nay : Là một lãnh địa tự trị dưới sự kiểm soát của Phù Nam cổ đại .
Campuchia đương đại : hoàn toàn không có gì liên hệ và quan hệ với nhau từ thời khởi nguồn nhà nước hay nói rõ ràng hơn là :" Khách mạnh , ăn hiếp chủ nhà ". Theo Bản đồ không gian Phù Nam và Chân Lạp (Miriam Stark 2006) . Sắc tộc Khmer : Nó từ đâu ra ? Where is it start ? .
Bất cứ ai . Tất cả mọi người , trên thế giới này , hay người Việt Nam có 3 câu hỏi trực tiếp với người dân hay nhà cầm quyền đương đại Campuchia - Hunsen rằng :
- Những di tích khảo cổ tại Vat Phou - Wat Phou hay núi Phou Khao ( 6Km Westside of Mekong River) vào nửa cuối Thế kỷ 5 . Địa điểm này , hiện nay thuộc về tỉnh Champasak của Nam Lào-Laos . Người Cao Miên - Campuchia đương đại có muốn thừa nhận hay không ? Đây là kinh đô đầu tiên của nhà nước ChenLa dưới sự dẫn dắt sắc tộc Khmer : City of Shrestapura- Pakse - Champasak - Laos ? Lingam ? This is original Khmer land ! Dưới sự cai trị của vua Shrutavarman ( 435- 495 ) và tiếp theo là vua Shreshthavarman ( 495 - 530 ) . Tại Vat Phou - Phou Khao còn được gọi là Shreshthapura cố đô đầu tiên của Kingdom of ChenLa - Pre Khmer , tại tỉnh Champasak thuộc Nam Lào bây giờ . Sau đó hai vua ChenLa - Chân Lạp kế tiếp là Mahendrarman và con trai là Ishanavarman đã liên tục mở ra các chiến dịch tấn công , vào lãnh thổ Phù Nam nằm phía Tây nam sông Mekong năm 612 - 628 ... It is not lower part of Mekong River , from Phnom Penh to to the Southern ?
- Phù Nam là Phù Nam và Chân Lạp là Chân Lạp. Sử liệu, khảo cổ học, ngôn ngữ học, văn bia, và khảo sát tộc người cho thấy không hề có sự nhập nhằng nào giữa hai thể chế này, cũng như không thể khẳng định Chân Lạp là người kế thừa (không nói là kế thừa toàn bộ) di sản của Phù Nam. Trước hết, Chân Lạp được tạo dựng bởi người Khmer. Người Khmer nói tiếng Nam Á (Austroasiatic). Địa bàn phân bố của những người tạo dựng nên Chân Lạp trải dài từ khu vực cao nguyên Khorat, dọc lưu vực sông Chi, sông Menam Mun, theo dãy Dangrek về phía đông đến vùng cao nguyên Champassak của Lào. Chân Lạp được thành lập sau Phù Nam và ban đầu còn phải nhận sự lệ thuộc. Thứ hai là chính Chân Lạp đã tấn công phá hủy Phù Nam, sau đó rút về phía Bắc của Biển Hồ.
- Lịch sử cư trú của người Khmer ở hạ lưu Mekong sau thời kỳ Phù Nam là hầu như không được đề cập đến. Nhà sử học Nhật Bản Yumio Sakurai nói rằng nhiều vùng đất như Đồng Tháp Mười đã bị bỏ hoang cả nghìn năm sau sự sụp đổ của Phù Nam.
Sứ thần nhà Nguyên Chu Đạt Quan đến Angkor vào thế kỷ XIII, ghi chép về vùng đất xung quanh hai bờ sông hầu như bỏ trống, chỉ có trâu hoang và rừng rậm.
Nhà khảo cổ người New Zealand, Charles Higham đã lập tấm bản đồ trong đó đánh dấu các địa điểm có văn bia Khmer từ thế kỷ IX đến XIII, cho thấy họ- ChenLa - Khmer , hầu như không có sự hiện diện nào từ khu vực phía Nam Phnom Penh (2002)...Sắc tộc Khmer hay Cao Miên - Campuchia : đã bị đồng hóa bởi nền văn minh tiến hoá lúc bấy giờ của Vương quốc Phù Nam cổ đại .
Cho nên những gì thuộc về văn hóa ; văn minh , phong tục và tín ngưỡng của Cao Miên - Campuchia bây giờ tất cả thuộc về nguồn gốc của Vương quốc Phù Nam- FUNAN trước Thế kỷ VII.
+ KHAI PHÁ ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM ... ĐẤT MŨI CÀ MAU VÀ VỊNH THÁI LAN (SIAM GULF) .
Tỉnh An Xuyên (Cà Mau). Tuy là tỉnh cuối cùng của miền Nam nước Việt, nhưng rẫy đầy rừng cấm, lâm sản, thổ sản và hải sản quý báu. Lại còn nhiều phong tục tập quán, tục lệ cổ truyền, thổ ngữ, ca dao, từ tỉnh lỵ đến đồng quê hẻo lánh, từ mũi Cà Mau đến Hòn Khoai và Hòn Đá Bạc...Và gốc tích các sông rạch, chùa miễu, phong cảnh đẹp cùng nhiều mẫu chuyện vui và lạ như: cách hầm than, đặt ống trúm bắt lươn, chụp ba khía, muối cua gạch son, ăn ong mật, đốn đuôn chà là, săn khỉ và lọ nồi, trục sấu mắc câu, săn kỳ đà, đốt đồng bắt rùa, cọp Cà Mau, đỉa, vắt, muỗi và bù mắt v.v.
Địa Danh An Xuyên (安川) có nghĩa là "Dòng nước An lành" - Năm 1956 Đệ nhứt Việt Nam Cộng Hòa, thành lập tỉnh tên là Cà Mau rồi An Xuyên,tỉnh lỵ tên Quản Long.
Vậy là tỉnh An Xuyên bao gồm 6 quận:
-Quận Quản Long
-Quận Cái Nước
-Quận Đầm Dơi
-Quận Thới Bình
-Quận Năm Căn
-Quận Sông Ông Đốc
Tên sáu quận rất Cà Mau, rất bổn địa, rất thân thương.
Ca dao xưa có câu:
"Cà Mau là xứ quê mùa
Muỗi bằng gà mái, cọp tùa bằng trâu"
và
Cà Mau khỉ khọt trên bưng,
Dưới sông sấu lội, trong rừng cọp um.
Cà Mau xuất xứ từ tiếng Khmer là “Tuk-Khmâu” nghĩa là nước đen. Tuk-Khmâu bị đọc gọn lại thành “Khmâu” và từ đó thành ra Cà Mau.
Gọi là “nước đen” vì vùng đất này toàn bùn lầy của đước, sú, vẹt, nhứt là khu rừng U Minh và khu sông Ông Đốc quanh năm bị ngập lụt, nước đọng vũng tù đọng từ vàng đậm tới đen thui sình bùn.
Bán đảo Cà Mau là vùng đất chót cùng của bản đồ Việt Nam, vùng đất mang danh “khỉ ho có gáy” của Nam Kỳ Lục Tỉnh. Vùng này kinh rạch chằng chịt, đất sình lầy ao tù nước đọng, lại có rừng U Minh kỳ dị trong truyền thuyết, nơi đó có rắn hổ mây biết tát đìa, biết gáy, những đầm lầy minh mông như đầm Bà Tường với nhiều cây mắm, cây đước hiên ngang chiến đấu giành đất với đại dương.
Đất này có nhiều địa danh ngộ nghĩnh như Trèm Trẹm, Đồng Cùng, Bảy Háp, Đầm Dơi, Gành Hào, Đường Kéo , Ô Rô, Rạch Muỗi, Cái Rắn…
Cà Mau là xứ sở của mật ong ,cá đồng, cua, có thể liệt kê như: cá lóc, cá tre, rô, sặc, bống,nchẽm, thác lác. Cá biển và cá nước lợ cũng đầy, tôm, cua, ba khía, rùa, rắn, lươn cũng vô số kể.
Muốn biết cảm giác “sông-rừng” Cà Mau và để biết cha ông chúng ta đã khai phá Cà Mau cực nhọc thế nào xin mời xem bộ “Hương rừng Cà Mau” của Sơn Nam và đọc truyện “Rừng Mắm” của nhà văn Bình-nguyên Lộc hay là câu chuyện tình trai gái qua tiểu thuyết xưa " Bên dòng sông Trẹm " .
Công cuộc Nam tiến mở mang bờ cõi đất phương Nam được nhắc đến như khúc trường ca oai hùng của ông bà chúng ta.
Những lưu dân áo rách chưn không băng rừng lội sông tìm đất sống. Họ đi từng đoàn lặng lẽ trong đêm,khát uống nước sông, đói xuống sông mò cá,lên rừng bẻ rau. Họ đi trên những chiếc ghe bầu linh đinh trên biển rồi ghé vào cái vàm nào đó ở chín cửa sông Cửu Long.
Cà Mau là mảnh đất cuối cùng của lưu dân khai phá.
Mồ hôi, nước mắt,tiếng than thở và cả máu. Đòn gánh, tầm vông, phảng chống nhau với cọp dữ, sấu tinh.
“Nghe nói Cà Mau xa lắm
Ở cuối cùng bản đồ Việt Nam
Ngại chi đường xa không tới
Về để nói với nhau mấy lời”
Người Cà Mau dễ thương lắm
"Xự xang xê cống thương
Gói sao cho tròn miếng trầu
Gởi bạn tình chung thủy chung".
GULF OF SIAM .
- Vịnh Thái Lan (tiếng Thái: อ่าว ไทย; phát âm tiếng Thái: [Ào Thay]) (tên gọi cũ: Vịnh Chân Lạp, Vịnh Xiêm La) là một vịnh nằm ở Biển Đông (thuộc Thái Bình Dương), được bao bọc bởi các quốc gia: Malaysia, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Đỉnh phía bắc của vịnh này là vịnh Băng Cốc ở cửa sông Chao Phraya, gần Băng Cốc, thủ đô Thái Lan. Vịnh này có diện tích khoảng 320.000 km². Điểm giới hạn của vịnh này được xác định theo đường nối từ mũi Cà Mau ở cực nam Việt Nam tới thành phố Kota Bharu trên bờ biển Malaysia.
Vịnh Thái Lan tương đối nông, độ sâu trung bình của nó chỉ khoảng 45 m và độ sâu lớn nhất là 80 m .
(Độ sâu trung bình 58 m (190 ft) & Độ sâu tối đa 85 m (279 ft)
Điều này làm cho sự đối lưu nước tương đối chậm, dòng chảy mạnh của nước các con sông làm cho nước vịnh tương đối nhạt (3,05 - 3,25%) và giàu trầm tích. Chỉ ở những vùng nước sâu thì nước biển có độ mặn cao hơn (3,4%) từ Biển Đông chảy vào vịnh và chiếm lĩnh các chỗ trũng có độ sâu hơn 50 m. Các sông chính chảy vào vịnh này là Chao Phraya (bao gồm cả sông nhánh của nó là Ta Chin) và Maeklong ở vùng lõm Băng Cốc, và ở mức độ thấp hơn là sông Tapi vào vịnh Bandon ở phía tây nam của vịnh này.
Vào giai đoạn đỉnh điểm của thời kỳ băng hà cuối cùng, vịnh Thái Lan không tồn tại do mực nước biển xuống thấp, nó khi đó là một phần của thung lũng sông Chao Phraya (Me Nam) .
Do nhiệt độ của vùng nhiệt đới là tương đối cao nên trong các vùng nước của vịnh Thái Lan có nhiều bãi đá san hô ngầm...
+ CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC ĐẢO SA BỒI NAM CÀ MAU - THỜI GIAN LIÊN TỤC TRONG 5 NĂM .
Với diện tích căn bản : 2007 Km2 hay có thể lên đến > 2010 Km2 .
Và chu vi xấp xĩ : 70 miles + 12.5 miles + 140 miles + 180 miles = > 400 miles tương đương 600 Km .
Công trình đảo sa bồi Nam Cà Mau gồm có 9 Giai đoạn căn bản theo thứ tự như sau :
CẤU TẠO CHÂN MÓNG TRỤ .
- Các khối Bê tông cốt thép không rỉ được đúc sẵn sàng trong đất liền với Cement chịu nước biển và các Đầu Cung Nối (Main Connector) được thiết kế trên một mặt phía trên và hai mặt bên hông của nó ([-]) . khối Bê tông cốt thép theo hình Lập phương hay gọi ngắn khối chân Móng trụ (Bê tông cốt Thép - hình khối Vuông )
- Các khối chân Móng trụ Lập phương có kích thước đồng đều : 5 mêt X 5 mét X 5 mét = 125 mét khối Bê tông Thép & Khối lượng >> 290 Tấn - 300 Tấn.
- Khoảng cách của mỗi khối chân Móng trụ là 100 mét chạy dọc theo đường Chân Biên theo hình dáng con Kanguroo đang nằm và đi vô trong theo chiều sâu với khoảng cách là 200 mét cho mỗi khối Bê tông Thép Vuông .
Giai đoạn [1] Đúc khối chân Móng trụ (Bê tông cốt Thép - hình khối Vuông) ,với toàn thể vật liệu bền bĩ với nước biển , có số lượng 6000 chân Móng trụ - Kích thước 5mX5mX5m .
BÊ-TÔNG CÔNG XƯỞNG HẠM (CONCRETE CONTAINER SHIP) : Dài 90 mét / Rộng 30 mét / Cao 20 mét với Đáy bằng như dạng Sà-lan .
Concrete container ship with a length of 90 meters, width of 30 meters, and height of 20 meters - Engine producing approximately 2,500 to 4,000 horsepower to cruise efficiently at speed : 12 to 14 knots . It can realistically carry a maximum cargo and operating weight (Deadweight Tonnage) of approximately 12,000 to 18,000 metric tons (heavy tons).
-Bê tông (Concrete) được trộn tại các nhà máy trộn Bê tông trong bờ biển thuộc tỉnh Hà Tiên (An Xuyên) ở dạng bùn lỏng .
-Trong khi , các giàn khung Thép nội lực và khuôn Đúc hình khối Lập phương với hệ thống vận hành Thủy lực Nhớt (Hydraulic) cho Điều khiển (On-Off) gọi chung là Khối Vuông Trụ Đúc được thiết trí hoàn toàn trên Bê-tông Công Xưởng Hạm .
+ Khuôn Đúc hình khối Lập phương với Cốp pha .
+ Steel Conveyor Roller X 2 Tracks .
-Bê-tông Công Xưởng Hạm sẽ đảm nhiệm cho hải trình <2 ways=""> đưa 6 Khối Vuông Trụ Đúc trong 1 hải trình (Out <> In) từ nhà máy trộn Bê tông trong bờ , đi ra tới Bãi cạn Nam Cà Mau trong vòng 100 miles và tiến hành hoàn thiện Giai đoạn [1] . (Sẽ Tiếp Theo)
Giai đoạn [2] Di chuyển và Định vị trên thực địa tại bãi sa bồi Nam Cà Mau , toàn bộ 6000 chân Móng trụ cắm dọc theo đường điểm mờ (Dot...Line) với khoảng cách 100 mét cho mỗi chân Móng trụ , dọc theo 600 Km chu vi - Để tạo nên hình dáng chân Móng trụ căn bản của Đảo sa bồi Nam Cà Mau .
Giai đoạn [3] Liên kết dây Cáp thép cỡ lớn (1.5 Inch) nối liền từ chân Móng trụ tại vị trí (Cung liên kết) lên trên mặt nước biển vịnh Thailand . Chiều dài của mỗi dây Cáp thép thay đổi , tùy theo độ sâu và lún xuống của mỗi chân Móng trụ ,nhưng trung bình từ (20 m đến 40 m) - Phần trên mặt nước biển - khối gắn Móc Khoá (Hook Lock L?) với một Bóng phao Cao su hình Cầu (Đường kính 5 m-dày 1.2Cm) bên trong bơm căng Không khí (Air Compress) để giữ các dây Cáp thép hiện diện trong trạng thái nổi lên trên mặt nước . Tất cả có tới 6000 Bóng phao Cao su liên kết song song = quy chiếu vuông góc với 6000 chân Móng trụ bên dưới tầng đáy biển .
Giai đoạn [4] Liên kết cặp đôi tại Trung điểm của hai Sà -lan theo hình khối hộp Chữ Nhật với kích thước (Dài 10 m X Rộng 5 m X Cao 4 m) , chế tạo vật liệu Thép đóng tàu biển (Dày 3 Cm - chịu nước mặn) - Theo mô hình song song với cặp đôi ([].[]) để thay thế cho 6000 Bóng phao Cao su sẽ di chuyển ngang , cho một chức năng thứ 2 . Theo thiết kế có số lượng 6000X2 Sà-lan cần thiết để làm Trụ Nổi (Float Root) được liên kết bền vững để làm căn bản , gọi là (Top-Rim) hay Đai Trên .
Giai đoạn [5] Nối đầu Cáp thép theo liên kết Ngang - Giữa hai cụm Sà-lan kế tiếp nhau - Chiều dài dây Cáp thép Ngang = 100 m X 2 theo 2 đầu Móc phía bên trong của mỗi Sà-lan và tạo nên Tim Trung tuyến của đường Ven Đảo (O-St) của mỗi Sà lan (Trong-Ngoài) - Tổng cộng có đến 6000 đoạn dây Cáp thép Ngang X2 = 12000 - Trên mỗi đoạn dây Cáp thép Ngang tại Trung điểm có gắn đúc một Tăng-đơ xoay vặn cho việc điều chỉnh độ căng của dây Cáp thép Ngang 95% .
- Sau khi liên kết các Sà-lan với nhau (6000X2) - Toàn bộ 6000 Bóng phao Cao su sẽ di chuyển Ngang lên vị trí giữa của dây Cáp thép Ngang và sử dụng Móc Khoá (Hook Lock L?) - Mục đích để định vị và gia tăng độ nổi cho các vật liệu cấu trúc trong Giai đoạn 7 .
Giai đoạn [6] Sử dụng các cần cẩu hạng nhẹ , được liên kết vững vàng trên các Sà-lan đã lắp đặt hoàn chỉnh . Lần lượt và liên tục thả 12000 dây Cáp thép Ngang , xuống dưới mặt nước biển và được kéo ra hai bên hông của chân Móng trụ và móc (Hook Lock) vô Đầu Cung Nối (Main Connector) hai bên hông (Side) của mỗi chân Móng trụ và xoay vặn Tăng-đơ cho căng cứng 95% , tạo nên một Đai Dưới (Base- Rim) . Kỹ thuật cấu tạo tương tự Giai đoạn 6 nhưng phải dùng các thiết bị Lặn sâu và cung cấp Oxygen cho các đơn vị thi công trong môi trường dưới áp suất nước biển và quậy bùn , làm giảm tầm quan sát .
Giai đoạn [7] Xây dựng một con đường kết nối giữa hai Trụ Nổi (Float-Root) và tiếp theo ,gọi là đường Ven Đảo hay đường O-St - Với chiều dài thiết lập 600 Km , chạy vòng quanh đảo bồng bềnh . Lúc này hình dáng của một đảo nổi Nam Cà Mau đã định hình lên trên mặt biển cửa vịnh Thailand , nhưng bên trong thềm lục địa và hải phận thuộc chủ quyền Việt Nam .
- Thiết kế để lắp ráp nên đường Ven Đảo gồm có sự liên kết của các Cầu Phao Nhựa + Lưới Thép (PlasticSteelNetFrame) - Vật liệu Nhựa được tập trung từ kỹ thuật nấu tái chế Nhựa phế thải và chế tạo thành hình dáng của một Sà-lan Nhựa lưới Thép còn gọi là Ống Nổi hay (Box) .
- Sà-lan Nhựa hay Box có hình dạng tương tự như Sà-lan Thép (Float Root) - Nhưng được chế tạo 50% phần Rắn (Solid) và 50% phần Rỗ (O) bên trong .
- Các đầu Liên Kết Móc bằng Thép chịu lực và chịu nước biển được thiết kế vươn ra hai đầu của Sà-lan Nhựa (Box) .
- Theo tính toán tổng quát trung bình cho một đầu nối giữa hai Trụ Nối (Float Root) dài 100 mét có 10 Box nối tiếp cho 1 bên (lane) và X2 = 20 Box cho 100 m . Tổng cộng sẽ có 6000X20Box= 120000 Sà-lan Nhựa (Box) cần thiết cho đường Ven Đảo .
- Mỗi chiếc Sà-lan Nhựa sẽ được đặt dọc theo dây Cáp thép tim Trung tuyến và được liên kết bằng 5 Cùm hông Ômêga (-O-) do 4 Bu loong Thép vặn giữ .
Trong khi 2 đầu phía ngoài được Liên kết theo các Bản lề (Hinge) do các Chốt Thép ([-]) xuyên Ngang . Mục đích tạo nên sự uyển chuyển lên xuống nhịp nhàng theo các đợt sóng tác động hình Sine waves .
Giai đoạn [8] Bây giờ là các công trình xây dựng tuyến đường Ven Đảo kết nối 600 Km , bằng vật liệu Dầu nhựa đường (Sạn + Đá dăm + Dầu Hắc) trộn đều và trải lên trên tuyến đường có trải 5 dàn khung Frame dây sắt rằn (10mm) được kết nối với nhau qua các lỗ mắt Xích (O---OO---O) . Dàn khung Frame gồm 10 đường (Dài 600Km) theo chiều Dọc và 5 Móc Ngang (H Link) cho sự liên kết Ngang (Horizontal) cho 5 dây sắt rằn của dàn khung Frame vững vàng . Trước khi đổ lớp vật liệu Dầu nhựa đường dày 20 Cm lên toàn bộ tuyến đường : Rộng 5 mét / Dài 600 Km / Dày 20 Cm .
Giai đoạn [9] Bây giờ , là kế hoạch lắp ráp các Hệ thống Máy Phát Điện dùng Hải Năng tức là dùng sức sóng Dập , để phát Điện Năng theo Mô hình BlowHole . Khu vực phát Điện dùng Hải Năng BlowHole được lắp đặt tại Khu vực phía Đông (12 Km2) của đảo sa bồi Nam Cà Mau , nhằm tạo nên nguồn Điện cung cấp cho Khu vực phía Tây (70 Km2) của đảo sa bồi Nam Cà Mau : Đây là khu vực lắp đặt nhiều Dàn máy Bơm Hút dạng Ly tâm có công suất lớn - có vòi hút dài 5 Km và có tàu vòi voi hướng dẫn Hút sa bồi . Mục đích là để hút phần trầm tích phù sa đang lắng đọng rất nhiều ở phía Tây và bơm vô bên trong đảo ở phía Tây , nhắm hình thành một vành cung hình móng Ngựa do sa bồi ở phía Tây của đảo trước (gọi là cồn móng Ngựa-HorseShoes) . Sau khi đầu đảo phía Tây đã nhô cao lên trên mặt nước biển tự nhiên , thì sau đó tất cả phù sa trầm tích của sông Cửu Long và Vàm Cỏ sau khi phân chia ở hòn Khoai ,sẽ bị cản lại tại phía Đông của cồn móng Ngựa ngày càng nhiều hơn và dần dần sẽ nâng cao lên cho toàn thể phần Đông của đảo sa bồi Nam Cà Mau và như vậy một hòn đảo mới ven bờ biển Nam Việt Nam đã hình thành .
+ Mục đích sẽ xây dựng thành một Khu vực Phát Điện Chủ lực cho miền Tây Nam Phần và Đô Thành Sài Gòn- Gia Định ,dựa vô tiềm năng thiên nhiên vô tận như : Hải Năng + Quang Năng + Phong Lực (Spiral Vertical Turbine) .
+ Ngoài ra , cũng còn mục đích chiến thuật là để kiểm soát On - Off luồng ngoại thương hàng hải của Thái Lan và CamPuChia , trong trường hợp căng thẳng chiến tranh khu vực Đông Nam Á .
+ FUNAN FLOAT ARTIFICIAL ISLAND SURFACE MOUNT SMT .
A - Hải Năng - Waves Energy .
ARTIFICIAL BLOWHOLE WAVES POWER GENERATOR .
Wave power stations that use a "blowhole" style operate on an Oscillating Water Column (OWC) principle. As waves enter an open underwater chamber, the rising and falling water compresses and decompresses trapped air, forcing it through a specialized turbine at the top to generate electricity.
How Blowhole (OWC) Wave Energy Works
The technology mimics a natural blowhole. It captures the energy from the entire water column as it moves into a fixed, hollow structure (usually a concrete chamber).
Wave Entry: A wave enters the large underwater opening, causing the water level inside the chamber to rise.
Air Compression: The rising water forces trapped air above it through a narrow opening at the top of the chamber.
Power Generation: The rushing air spins an air turbine connected to a generator, creating electricity.
The Vacuum Effect: As the wave recedes, the falling water creates a vacuum, sucking air back into the chamber and spinning the turbine again.
Advantages
Reliability: The moving parts (the turbine and generator) are located completely above the water line, protecting them from corrosive saltwater.
No Underwater Moving Parts: By having no moving parts submerged in the ocean, it avoids harming marine life and requires less maintenance.
Coastal Protection: These structures can be built directly into the shoreline, acting as a revenue-generating breakwater or seawall that protects the coast from erosion.
B - Quang Năng - Solar Panel System .
SOLAR PANEL FIELD PLANT .
Tấm quang điện hay Tấm pin năng lượng mặt trời là thiết bị chuyển đổi ánh sáng mặt trời thành điện năng bằng cách sử dụng tế bào quang điện (PV). Tế bào PV làm từ vật liệu tạo ra điện tử khi tiếp xúc với ánh sáng. Các điện tử chạy qua mạch điện, tạo ra dòng điện một chiều (DC) có thể dùng để cấp nguồn hoặc lưu trữ trong pin. Các tấm pin mặt trời còn gọi là tấm điện mặt trời hoặc mô-đun PV hay Solar Panel System .
Tấm pin mặt trời được sắp xếp thành mảng hoặc hệ thống. Hệ thống quang điện bao gồm tấm pin, biến tần, và các thành phần khác. Nó có thể cung cấp điện cho các ứng dụng không kết nối lưới hoặc được kết nối lại lưới. Tấm pin mặt trời sử dụng năng lượng tái tạo, giảm phát thải khí nhà kính và giảm hóa đơn tiền điện. Solar Panel System phụ thuộc vào ánh sáng mặt trời, đòi hỏi bảo trì có chi phí ban đầu cao nhưng được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp và dân dụng.
C - Phong Lực w Spiral Vertical Turbine .
TWISTER ELECTRICITY POWER STATION .
Mô hình Turbine gió trục dọc dạng xoắn (thường dựa trên nguyên lý xoắn ốc Spiral) là giải pháp năng lượng tái tạo tận dụng hướng gió từ mọi góc độ. Với thiết kế thẳng đứng, dòng chảy xoắn giúp thiết bị vận hành êm ái, an toàn và hiệu quả ngay cả trong điều kiện gió yếu hoặc luồng gió hỗn loạn .
Nguyên lý hoạt động và Cấu tạo
Thiết kế hình học: Cánh quạt xoắn quanh một trục trung tâm theo đường cong hình học tự nhiên giúp phân bổ lực đều và giảm tiếng ồn.
Đa hướng: Khác với turbine trục ngang (phải quay theo hướng gió), turbine trục dọc bắt được luồng gió từ 360 độ theo 3 cánh Gió (WindFins).
2. Ưu và nhược điểm Ưu điểm: Hoạt động tốt trong môi trường gió nhiễu, thân thiện với chim chóc, tiếng ồn cực thấp và tạo điểm nhấn kiến trúc. Nhược điểm: Hiệu suất chuyển đổi năng lượng , thường thấp hơn so với các turbine trục ngang cánh lớn truyền thống. Do đó , cần phải thiết trí theo mô hình Kinh+Vĩ với số lượng nhiều các trụ Phát Điện Spiral Vertical Turbine để thu dung công suẩt Điện Lực tổng hợp .
D - Hệ Thống Hạ Nhiệt Gió (Sea+Air Cooler) cho khu vực Tây Nam Phần-Đông Nam Phần đến phía nam cao nguyên Di Linh - Lâm Viên .
SEA+AIR COOLER WINDY BASE .
Nguyên Lý Hoạt Động :
+ Sử dụng nguồn Điện Năng trên đảo sa bồi Nam Cà Mau cung cấp cho Thiết bị Sinh Hàn công suất lớn ... Phát ra nguồn Central AirConditioner (Nhiệt thấp) - tạo Khí áp cao - mở dòng gió Biển mang theo hơi nước mát từ biển thổi sâu vô đất liền đang Nhiệt cao và Khí áp thấp - Nhờ vào sự truyền dẫn và trao đổi Nhiệt độ qua Không khí luân phiên - Sẽ làm cho Nhiệt độ bên trong đất liền giảm xuống nhiều từ 42 Độ C xuống 27 Độ C là điều mong muốn .
E - Hệ thống Truyền tải Điện năng vô đất liền .
ELECTRICITY POWER TRANSFER .
Gồm có :
1 / Hữu tuyến : Tuyến dây cáp truyền Điện Cách ly (Ngầm dưới nước) .
2 / Vô tuyến : Hệ thống phát tín hiệu MicroWave Magnetron & Phục hồi Energy to Heat up Water for Steam Turbine Electric Generator (Trong bờ biển) .
(Sẽ Tiếp Theo)
Gửi ý kiến của bạn